Lịch sử phát triển của công nghệ sản xuất ván nhân tạo

Công nghệ sản xuất ván nhân tạo

Trong nền kinh tế quốc dân và trong đời sống hàng ngày, gỗ là một loại nguyên liệu được sử dụng rộng rãi, vì nguồn nguyên liệu gỗ phong phú và tái tạo vô tận. Rừng, nếu biết sử dụng tốt, sử dụng có khoa học, có quy hoạch, khai thác đúng phương thức, biết tu bổ rừng, biết cải tạo, biết trồng rừng có hiệu quả kinh tế cao thì vừa đảm bảo được môi trường sinh thái vừa cung cấp được nguyên liệu cho nền kinh tế quốc dân và đời sống nhân dân.

So với các vật liệu xây dựng thì gỗ có ưu điểm:

  • Nhẹ: Tỷ lệ sức bền so với trọng lượng cao nên giá trị sử dụng cao.
  • Dễ gia công.
  • Không bị gỉ như kim loại.
  • Cách âm, cách điện, cách nhiệt tốt.

Tuy vậy, gỗ nguyên có một số nhược điểm như tính chất không đồng đều chiều thớ, dễ bị cháy, bị mục, mọt, bị nứt nẻ, bị thay đổi hình dạng, kích thước do tác động của nhiệt, ẩm, bề rộng của ván xẻ bị hạn chế bởi đường kính của thân cây gỗ.

Để khắc phục những nhược điểm, mở rộng phạm vi và giá trị sử dụng của gỗ và nhất là để tiết kiệm gỗ trong khai thác, chăm sóc rừng tự nhiên và rừng trồng (gỗ tỉa thưa), sử dụng các phế liệu gỗ qua chế biến cơ học (phoi bào, mùn cưa, đầu mẩu) và các phế liệu nông nghiệp (rơm rạ, bã mía, thân cây đay, xơ dừa…), tăng thêm nhiều sản phẩm mới cho sản xuất và tiêu dùng, góp phần tích cực vào công tác bảo vệ rừng; đến cuối thế kỷ thứ XIX nhờ công nghệ hóa học phát triển tìm ra được những loại keo dán mới, công nghiệp sản xuất ván nhân tạo ra đời: Gỗ dán từ nửa cuối thế kỷ thứ XIX phát triển ở Đức, ở Nga, Mỹ sản xuất gỗ dán từ đầu thế kỷ XX. Xuất hiện gỗ dán có ảnh hưởng lớn đến việc sử dụng gỗ, nó bắt đầu thay thế gỗ xẻ và cạnh tranh được gỗ xẻ nhờ có tính chất đồng đều theo chiều thớ, có kích thước ván lớn, độ bền cơ học cao.

Công nghiệp sản xuất bột gỗ bắt đầu từ năm 1840, khi trên thế giới xuất hiện máy nghiền sợi. Năm 1857, công nghiệp sản xuất cellucose ra đời, từ đó phát triển công nghiệp sản xuất giấy sợi.

Trong thời gian đại chiến lần thứ hai nhu cầu về gỗ tăng lên rất lớn, nhưng rừng ngày càng bị khai thác kiệt quệ vì sự phát triển không kế hoạch, sự khai thác tàn tệ của chủ nghĩa tư bản, từ đó chiều hướng tận dụng phế liệu gỗ bắt đầu xuât hiện. Các loại hình công nghiệp sản xuất ván sàn gỗ, ván sợi, ván dăm, ván dán, ván ghép thanh, ván sợi xi măng, composite gỗ, sản xuất sàn gỗ công nghiệp, sàn gỗ tự nhiên, sàn gỗ ngoài trời… bắt đầu phát triển mạnh mẽ.

Nhờ có tính chất cơ, lý tốt: Cách âm, cách nhiệt tốt, phế giá rẻ, sử dụng được rừng trồng mọc nhanh làm nguyên liệu, nhất là có thể dùng tiến bộ của khoa học công nghệ hiện đại để sản xuất ván có kích thước, khối lượng thể tích biến đổi trong phạm vi rộng; có các tính chất cơ, lý, hóa đáp ứng yêu cầu sử dụng; nên các loại ván nhân tạo này bắt đầu thay thế các loại gỗ xẻ dùng trong xây dựng, đồ mộc và rất nhiều ngành khác. Một m³ ván dăm cần 1,7-1,8 m³ gỗ tròn cỡ nhỏ hoặc phế liệu, song trong sử dụng nó thay thế 2 m³ gỗ xẻ hay 4 m³ gỗ tròn (tỷ lệ thành khí gỗ xẻ bình quân 50%)

Nước có khối lượng sản xuất lớn nhất là Mỹ tiếp đến là Trung Quốc, Canada, Đức. Quốc gia tiêu dùng lượng ván nhân tạo lớn nhất là Mỹ ( chiếm 33% khối lượng tiêu dùng thế giới), Trung Quốc (chiếm 10%), sau đó đến Đức và Nhật Bản.

Trong những năm gần đây, ván dăm là loại sản phẩm chiếm tỷ trọng giá trị lớn trong sản xuất ván nhân tạo (45-50 tỷ đô la), ván dăm được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực khác nhau: Xây dựng, nhà ở, đồ mộc và lĩnh vực sử dụng ngày càng rộng rãi. Trên thế giới trong 15-20 năm gần đây có xu hướng phát triển rộng chủng loại ván gỗ OSB ( Oriented Strand Board) và ván sợi có khối lượng thể tích trung bình MDF ( Medium Density Fibreboard). Phát triển ván nhân tạo đã tạo ra khả năng tận dụng gỗ các loại, từ gỗ lá kim đến gỗ lá rộng, từ phế liệu gỗ đến gỗ tạp, gỗ rừng trồng mọc nhanh, phế liệu nông nghiệp… với khối lượng rất lớn và tỷ lệ lợi dụng nguyên liệu cao. Hiện nay đã có nhiều quốc gia đưa tỷ lệ sử dụng gỗ đạt tới 98% như ở Đức, họ sử dụng triệt để tất cả các bộ phận của cây gỗ

Các nước và vùng lãnh thổ châu Á cũng phát triển mạnh sản xuất ván nhân tạo, năm 1976 Thái Lan có 58 triệu dân, sản xuất 2,2 triệu m³ ván nhân tạo, bình quân gần 0,04 m³/người/năm (trong đó ván dăm 1,3 triệu m³); Malaysia có 19 triệu dân, sản xuất khoảng 1 triệu m³ ván sợi, bình quân 0,05 m³/người/năm. Đài Loan có 32 triệu dân, hàng năm sản xuất 40.000 m³ ván MDF và nhập khẩu khoảng 350.000 m³ ván nhân tạo các loại.

Ở nước ta, công nghiệp chế biến gỗ chậm phát triển và vẫn còn ở trình độ thấp so với thế giới. Sản phẩm chủ yếu gồm đồ gỗ gia dụng, hàng thủ công mỹ nghệ, gỗ xây dựng cơ bản, ván sàn gỗ…

Hiện nay cả nước có 25 dây chuyền sản xuất ván nhân tạo với hầu hết là công suất nhỏ dưới 6000 m³/năm (trừ nhà máy MDF Gia Lai và nhà máy ván dăm Thái Nguyên). Trong đó có 08 nhà máy ván dán, 02 nhà máy ván sợi, 06 nhà máy ván dăm và 14 nhà máy sản xuất ván ghép thanh.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã có dự án 1999-2010 sản xuất 1.100.000 m³ ván nhân tạo. Trong đó ván dăm 698.000 m³ chiếm 63,4%, ván sợi 375.000 m³ chiếm 34,15%, ván ghép thanh khoảng 18.000 m³.

Từ năm 1999 đến 2000 đã triển khai xây dựng 2 nhà máy: Ván dăm Thái Nguyên và nhà máy ván sợi MDF Gia Lai. Các nhà máy này được xây dựng cùng với việc xây dựng vùng nguyên liệu trồng rừng trồng để chủ động cung cấp nguyên liệu cho nhà máy. Bộ cũng chủ trương hạn chế xây dựng mới các nhà máy ván dán vì sản phẩm này đòi hỏi loại gỗ có kích thước lớn, đồng thời chủ trương cải tạo nâng cấp hoàn chỉnh cơ sở sản xuất ván dán hiện có để tăng cường sử dụng gỗ rừng trồng và gỗ nhập khẩu, lượng ván dán sản xuất khoảng 50.000 m³ sản phẩm/năm.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *