Yêu cầu của nguyên liệu gỗ dùng trong sản xuất ván dán

Các yêu cầu đối với nguyên liệu sản xuất ván dán

Các yêu cầu cơ bản của nguyên liệu trong sản xuất ván dán

Bán thành phẩm để sản xuất gỗ dán, ván dán các loại là gỗ xẻ, ván bóc mỏng và ván lạng liên kết với nhau thành ván dán keo bởi keo U-F hoặc M-F để bảo đảm cường độ dán dính cao. Bán thành phẩm phải có độc ẩm khoảng 65, ván mỏng, ván lạng yêu cầu nguyên liệu gỗ phải không có khuyết tật như: Mục, mắt vượt quá tiêu chuẩn cho phép, có khối lượng thể tích và cấu tạo vân thớ đáp ứng yêu cầu của từng loại ván mỏng và ván lạng, dễ bóc, dễ lạng với chất lượng bề mặt và tỷ lệ lợi dungjcao. Vì vậy yêu cầu chủ yếu đối với gỗ để sản xuất ván mỏng là:

  • Loại gỗ: Loại gỗ có công cắt bé, độ dẻo dai cao, mềm, có khối lượng thể tích 0,4-0,6g/m³, có hình dáng tròn đều, thẳng ( độ cong và độ thót gọn, độ tròn, ít khuyết tật để bảo đảm tỷ lệ thành khí cao). Ở Châu Âu thường sử dụng gỗ Bạch Dương, gỗ Thông… Ở Việt Nam thường dùng các loại gỗ Trám, Xoan, Vạng, Ràng ràng, Dầu, Vên vên, Lát…để làm ván mỏng dán mặt và ván lạng cần chọn loại gỗ có vân thớ và màu sắc đẹp như: Trám hồng, Lát hoa, Vên vên, Sồi, Dẻ… . Hầu hết các loại gỗ này đều có độ cứng kém nên chỉ dùng vào việc sản xuất ván dán mà thôi, không dùng cho việc sản xuất sàn gỗ tự nhiên được. Tuy nhiên các phế liệu có thể được sử dụng làm nguyên liệu để sản xuất các loại sàn gỗ công nghiệp, làm cốt của sàn gỗ tự nhiên dán mặt mà thôi.
  • Về kích thước: chiều dài của gỗ để bóc tùy thuộc kích thước của sản phẩm và máy bóc thường có cấp chiều dài: 1,30; 1,60; 1,91; 2,23; 22,54. Liên bang Nga quy định đường kính gỗ tròn đối với gỗ lá rộng lớn hơn 16cm đối với gỗ Thông lớn hơn 18cm, đường kính gỗ tròn càng lớn thì tỷ lệ lợi dụng gỗ bóc mỏng càng cao. Chất lượng nguyên liệu được quy định đối với từng loại gỗ.
  • Về mắt: Đường kính mắt không quá 3cm đối với gỗ lá rộng, không quá 5cm đối với gỗ lá kim.
  • Về mục ruột: Không quá 10cm đối với gỗ lá rộng, mục ở giác đối với nguyên liệu loại 1 không có, loại 2 không sâu quá 1/10 đường kính ngọn.
  • Về độ công: Đối với gỗ lá rộng đường kính lớn hơn 26cm loại 1 không quá 2%.
  • Vết nứt: Chiều sâu vết nứt theo hướng xuyên tâm, nguyên liệu loại 1 không quá 5cm ở vùng bóc.

Việt Nam quy định mục không làm được gỗ dán, mục biến màu chỉ làm lớp ván giữa, mắt theo yêu cầu sản phẩm, số lỗ sâu mọt theo yêu cầu sản phẩm, nứt dọc phải cắt và ghép ván mỏng, gỗ tròn trước khi bóc thành ván mỏng cần phải bóc vỏ, làm sạch và cắt khúc, phải kiểm tra xem gỗ có các tạp chất lẫn vào như: Kim loại, đất, đá không, nếu có thì phải cắt bỏ, vỏ cây ảnh hưởng rất lớn đến dao bóc, vậy đây là công đoạn cần coi trọng, cần phải được cơ giới hóa, đất cát, kim loại trong khúc gỗ ảnh hưởng đến lưỡi dao bóc, vì vậy phải làm sạch đất cát, cũng như phát hiện và loại trừ các mảnh kim loại bằng thiết bị chuyên dùng.

Vận chuyển nguyên liệu

Gỗ được vận chuyển đến xưởng bằng đường bộ, đường thủy hoặc đường sắt, vận chuyển bằng đường thủy thì gỗ được ngâm trong nước, giữ được phẩm chất, ít bị mối mục, nhưng không phụ thuộc vào thời vụ có thể vận chuyển thủy được, để có đủ nguyên liệu sản xuất liên tục, cần phải có kho dự và bảo quản, yêu cầu phải tăng chi phí đầu tư, vận chuyển bộ thì ưu tiên vận chuyển đường sắt, chở bằng ô tô ưu việt trong điều kiện cư ly vận chuyển ngắn, dưới 50km, chở bằng ô tô không phụ thuộc thời vụ, không cần phải có kho dự trữ lớn; chỉ cần dự trữ lượng gỗ cho 1 tháng; không cần ngâm hay làm ẩm gỗ; nên giảm được thời gian sấy ván bóc, nguyên liệu phân loại theo cấp và chủng loại gỗ, diện tích kho bãi được tính theo công thức:

F = E/E.k.k

F: Diện tích kho, bãi

E: Khối lượng nguyên liệu, m3

K: Độ chặt xếp chồng gỗ:0,6

K: Hệ số sử dụng bãi:0,3-0,6

Phương pháp bảo quản nguyên liệu

Nguyên liệu phải được bảo quản tốt, không mục. Thường, mục, nấm phát triển ở nhiệt độ 15-250C; độ ẩm MC=40-60%, thay đổi điều kiện đó nấm mục sẽ phát triển chậm hơn, hoặc không xuất hiện. Lúc độ ẩm gỗ 100%, nhiệt độ thấp hơn 50C nấm mục không phát triển. Không bảo đảm các điều kiện đó sẽ dẫn đến tiêu hao nguyên liệu do nấm mục và nứt nẻ, không cho nấm mục, mối mọt phá hoại gỗ. Để bảo quản tạm thời ( trong thời gian 3 tháng) bảo quản lâu dài ( thời gian trên 3 tháng).

Biện pháp bảo quản là tổng hợp các phương pháp tạo những điều kiện thuận lợi cho gỗ không bị nứt nẻ, không cho nấm mục, mối mọt phá hoại gỗ. Để bảo quản tạm thời người ta xếp gỗ thành chồng để nguyên vỏ và có bảo quản đầu gỗ bằng keo chống nứt và mục. Để bảo quản lâu dài (gỗ lá kim trên 3 tháng, gỗ lá rộng trên một tháng) người ta xếp chồng gỗ cấp 1 cả vỏ, có bịt đầu, xếp chồng gỗ cả vỏ phun mưa. Sơn sáp chống ẩm chế tạo từ nhựa đường, sản phẩm nhiệt phân gỗ, dùng cả keo polime và thuốc pentaclo, nhựa thông, nhựa đường, có pha crêzôt.

Bảo quản gỗ bằng phun mưa: Gỗ xếp trên đà bê tông, dùng vòi để phun mỗi ngày 6 đến 10 lần, mỗi lần 15 phút. Bảo quản nguyên liệu trong nước: lúc khối lượng gỗ lớn người ta dùng phương pháp ngâm gỗ trong bể sâu 3-4m. Bè gỗ nhấn chìm xuống nước, hoặc phun mưa phần nổi lên trên.

Nguyên liệu để sản xuất ván nhân tạo, sản xuất composite gỗ (sàn gỗ Composite) gồm 3 hoặc nhiều thành phần không hòa tan và có ranh giới để kết dính với nhau rõ ràng. Đối với ván nhân tạo các thành phần đó là:

  • Gỗ, phế liệu gỗ, phế liệu nông nghiệp, thực vật thân thảo – đối tượng để dán dính.
  • Keo tổng hợp cao phân tử, keo hữu cơ, keo vô cơ là chất kết dính các phần tử gỗ và phế liệu gỗ với nhau thành ván, thành chi tiết sản phẩm và sản phẩm hoàn chỉnh có chất lượng đáp ứng yêu cầu sử dụng cao hơn gỗ nguyên dạng.

Để sản xuất ván nhân tạo nguyên liệu gỗ cần đáp ứng những yêu cầu cơ bản đối với công nghệ sản xuất và chất lượng của từng loại sản phẩm.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *